Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2012

Đâu là hạnh phúc bạn đang có?

          
Chúng ta chỉ cảm thấy giá trị thật sự của HẠNH PHÚC
cho đến khi chúng ta ĐÃ ĐÁNH MẤT hoặc SẮP SỬA MẤT nó.
-Khuyết danh-

Vị vua nọ đang đi công du trên một chuyến tàu thì gặp cơn bão lớn. Gió to, sóng dữ gầm thét như muốn quật đổ những cột buồm và nuốt chửng con tàu. Một người trong đoàn tuỳ tùng nhà vua trước đây chưa từng ra biển nên vô cùng hoảng sợ. Anh ta khóc thét lên trong nỗi sợ hãi và mỗi lúc một to hơn. Không ai trên tàu có thể trấn an anh ta được.
Trong cơn giận dữ nhà vua hét lên:
-  Có ai ở đây có thể làm cho tên hèn nhát kia câm miệng lại được không?
Ngài hỏi đến lần thứ ba, vẫn không một ai trong đám cận thần lên tiếng. Cuối cùng, có một người bước ra – ông ta là một hành khách trên tàu.
-  Tôi nghĩ là tôi có thể khiến cho anh ta yên lặng nếu tôi được toàn quyền làm điều đó.
Một thoáng do dự, nhưng vì nóng lòng muốn biết cách của người hành khách đó nên nhà vua ra lệnh:
-  Làm ngay đi! Ta cho phép nhà ngươi.
Người khách liền ra lệnh những người lính ném anh ta xuống biển. Rơi xuống biển lạnh giá đầy sóng lớn, anh ta gào lên khiếp sợ và vùng vẫy trong hoảng loạn, cố tìm mọi cách ngoi lên mặt nước. Ít giây sau, người khách cho thả phao kéo anh ta lên. Khi bám được thành tàu, dù mệt rũ rượi và nét mặt lộ rõ vẻ kinh hoàng, nhưng anh ta đã hoàn toàn im lặng.
Quá ngạc nhiên và ấn tượng về những gì vừa diễn ra, nhà vua bèn hỏi người khách lạ tại sao anh ta có thể biết trước được như vậy. Người khách đáp:
-  Chúng ta không bao giờ nhận ra những điều bình dị mà quý giá đang có trong mọi tình huống, cho đến khi chúng ta rơi vào một tình trạng thực sự tồi tệ hơn.
First news
Theo Internet

Chủ Nhật, 25 tháng 3, 2012

Thầy bọ cạp của tôi

 Ngày xưa tôi hay nóng tính và bực mình. Bực mình bởi không hài lòng với những việc làm của đồng nghiệp, cấp dưới, hay những người xung quanh. Tôi đặc biệt khó chịu khi thấy ai đó làm tổn thương.

Bây giờ tôi đã thấy mình thay đổi, nếu không được 100% thì cũng đã là tự đổi mới rất nhiều. Tất cả chỉ nhờ 1 câu chuyện tình cờ nghe được cách đây nhiều năm.

Chuyện kể rằng, có một người đàn ông phát hiện ra con bò cạp đang chơi vơi trong nước. Ông ta quyết định đưa tay ra cứu nó, nhưng chính con bò cạp ấy lại đốt ông ta. Vẫn cố gắng vớt con bò cạp ra khỏi nước và người đàn ông lại bị đốt.

 Một người khuyên ông không nên cứu con bò cạp nữa vì nó liên tục đốt ông. Nhưng người đàn ông trả lời rằng: "Bản năng tự nhiên của bò cạp là chích. Bản năng tự nhiên của tôi là yêu thương. Vậy tại sao tôi phải từ bỏ bản năng yêu thương chỉ vì bản tính tự nhiên của bò cạp.”

Mỗi sinh vật trên thế gian này có bản năng riêng. Bản năng để sinh tồn. Bản năng đó được sinh ra bởi nghiệp. Hình dáng và tính cách, thân và tâm, bên trong và bên ngoài. Tất cả được xác định bởi nghiệp. Là chim tức biết bay. Là chó tức biết “gâu”. Là sâu tức ăn lá cây. Là muỗi tức chích da ta và hút máu. Chúng ta không thể thay đổi được bản năng của muỗi để muỗi không hút máu người. Chúng ta không thay đổi được rắn để rắn không có nọc độc.

Còn bản năng tự nhiên của con người là gì? Đức Phật đã dạy rằng, mỗi chúng ta đều là Phật sẽ thành. Bởi chúng ta bị 3 lớp mây đen tham, sân, si che lấp nên ánh mặt trời không đến được với chúng ta.

Nhưng đã là người tức có tình yêu thương. Đã là thân người là có thương yêu nhân loại và chúng sinh. Chỉ có điều: Do điều kiện ngoại cảnh và môi trường sống, do ý thức và sự giác ngộ của mỗi chúng ta khác nhau nên mức độ yêu thương cũng khác nhau và thể hiện ở những thời điểm khác nhau.

Tình yêu thương chân thực là cho đi mà không đòi hỏi. Rằng có tâm từ, bi, hỷ, xả tức có niềm vui. Rằng yêu thương mọi người, mọi vật xung quanh là tuyệt vời nhất. Nếu như chúng ta sợ bò cạp đốt, chúng ta có thể không cứu được chú bò cạp đáng thương này. Nếu như chúng ta sợ kẻ trộm, kẻ cướp có thể chúng ta không ra tay ngăn chặn các tệ nạn xấu trong xã hội.

Trong cuộc sống chúng ta chứng kiến bao câu chuyện. Nhiều người rơi vào những hoàn cảnh éo le, đáng thương như xì ke, ma túy, mại dâm, trộm cắp, lừa đảo… Nếu không có ai giang tay, nếu không có người lan tỏa tình yêu thương thì liệu họ có tìm ra lối đi, liệu tự họ có biết đường thoát. Có gần với họ mới biết họ đang rất cần sự cảm thông và tình yêu thương. Họ đang rất cần chúng ta.

Tôi có những người quen hết mình vì xã hội và cộng đồng. Họ cống hiến rất nhiều mà không ao giờ đòi hỏi. Họ thật sự có tình yêu thương to lớn và không bao giờ toan tính. Họ biết rằng có thể bị “bọ cạp” cắn nhưng vẫn làm. Họ làm bởi tình yêu thương. Mà tình yêu thương đó là bản năng tự nhiên.

Tôi cũng đã thay đổi. Và may mắn hơn, tôi đã trực tiếp chứng kiến bao con bò cạp đã thay đổi bản tính, từ việc đốt, cắn sang tình yêu thương. Tôi nhận ra rằng, chính chú bò cạp là người thầy của mình, người thầy tuyệt vời dạy tôi yêu thương mà không đòi hỏi, yêu thương khi ta cho đi và chấp nhận mất mát, thậm chí cả hy sinh. Hạnh phúc và kỳ diệu làm sao khi có tình yêu thương. Tình yêu thương là kỳ quan vĩ đại nhất trên thế gian này./.
       
Nguồn: http://www.phattuvietnam.net/doisong/nghethuatsong/17553.html

Khen chê và việc nên làm trước khi “xử lý” ai đó

Khi gặp chuyện không ưa, thường ta khó chịu và có thể nổi nóng. Khi thấy người khác làm sai, ngay lập tức ta muốn “xử lý” họ. Chúng ta thường nghĩ đến các khía cạnh tiêu cực của 1 vấn đề, dễ nhìn thấy điểm xấu của người thân hay bạn bè. Tuy nhiên có một câu chuyển đã làm tôi thức tỉnh và “ngộ” ra rất nhiều điều.

Chuyện xảy ra với ông Edward Bedford. Ông là thành viên ban giám đốc của công ty dầu lửa do John Rockefeller đứng đầu. Badford đã có một quyết định sai lầm làm công ty thiệt hại hơn 2 triệu đôla.

Khi câu chuyện khủng khiếp về sự thiệt hại trên xảy ra, mọi người biết tin và ai cũng rất lo lắng nên tránh gặp mặt Rockefeller. Tất cả đều sợ liên lụy. Trừ duy nhất một người, chính người đã đưa ra quyết định sai lầm kia - Edward Bedford.

Rockefeller hẹn gặp Bedford. Bedford đến rất đúng giờ và chuẩn bị sẵn tinh thần để nghe những gì tồi tệ nhất từ Rockefeller. Ông cũng đã chuẩn bị sẵn tinh thần để đón nhận những thông tin đen tối nhất.

Khi Bedford bước vào phòng, ông vua dầu lửa Rockefeller đang ngồi và chăm chú viết. Khi Rockefeller ngẩng lên ông đã nói rằng ông đã nghe tin về tổn thất của công ty và đã ghi sẵn ra những gì ông muốn nói với Bedford. Rồi Rockefeller đã đưa tờ giấy vừa ghi cho Bedford.

Khi cầm tờ giấy từ tay Rockefeller, Bedford nghĩ rằng đó là quyết định cho nghỉ việc. Tuy nhiên ông hoàn toàn bất ngờ khi trên tờ giấy mà ông vua dầu lửa vừa ghi lại là: "Những ưu điểm của Bedford".

Trong tờ giấy này Rockefeller liệt kê một loạt những đức tính tốt, những mặt mạnh của Bedford. Ông vua dầu lửa cũng ghi lại 3 quyết định đúng đắn của Bedford trước đây, và rằng số tiền kiếm được từ 3 quyết định đúng đó giúp công ty kiếm được số tiền lớn hơn rất nhiều so với tổn thất 2 triệu đô la của lần này.

Bedford vô cùng bất ngờ và xúc động. Ông đã cống hiến hết mình và để lại những thành quả vô cùng lớn lao cho doanh nghiệp sau này. Hơn nữa, khi biết tin, mọi người đã vô cùng khâm phục ông vua dầu lửa.

Chúng ta thường dễ sân hận và khi giận lên, ta thường quên hết công lao, sự đóng góp và tấm lòng của đồng nghiệp, bạn bè, thậm chí người thân của ta. Tôi cũng vậy. Khi sân nổi lên tôi cũng đã thường xuyên xả cơn giận vào bất cả ai quanh mình. Càng người thân, càng bị chịu trận. Nóng giận mất khôn. Tôi cũng đã mất vô vàn cơ hội, mất nhiều bạn bè và đối tác chỉ vì cách ứng xử không đúng của mình.

Từ ngày biết đến câu chuyện của Rockefeller và Bedford tôi ý thức được hơn và biết kiềm chế hơn. Tôi cũng học được cách phê bình người khác và trước khi phê bình bất cứ ai thường đưa những nhận xét tốt về họ, ghi những đóng góp của họ, những tình cảm đáng quý của họ. Và cuối cùng là sự góp ý hay khiển trách.

Tôi thay đổi hơn nữa từ câu chuyện này để rồi bây giờ thường xuyên gửi nhắn tin với những lời nói nhẹ nhàng dễ thương, những lời chúc vui vẻ và tích cực đến tất cả mọi người quanh mình. Và kết quả là không chỉ tôi mà bao người quanh mình nhận được hạnh phúc và sự tôn trọng. Một câu chuyển nhỏ đã thay đổi  tư duy, làm đổi thay cách nghĩ, lời nói và hành động của tôi. Khi viết lại những dòng chữ này tôi muốn rằng mỗi bạn đọc hay Phật tử có thể lưu ý đến những gì nhỏ nhất, đơn giản nhất quanh mình để có cuộc sống như ý.

Việc khen chê phải biết cách và trước khi định kỷ luật ai hãy suy nghĩ kỹ và nhớ về những giá trị của người đó đã mang lại cho ta.

Càng nghĩ càng thấy 3 “con rắn độc” mà đức Phật đã chỉ ra thật là đáng để chúng ta suy nghĩ và tìm cách “tránh” mỗi ngày mỗi giờ, mỗi phút mỗi giây.

Theo phattuvietnam.net

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2012

Chuỗi ngọc lam

   
   Một buổi chiều mùa đông hôm ấy, một em gái đứng áp trán vào tủ kính cửa hàng của Pi-e, nhìn từng đồ vật như muốn kiếm thứ gì. Bỗng em ngẩng đầu lên:
   - Cháu có thể xem chuỗi ngọc này không ạ?
   Pi-e lấy chuỗi ngọc đưa cho cô bé. Cô bé thốt lên:
   - Đẹp quá! Xin chú gói lại cho cháu!
   Pi-e ngạc nhiên:
   - Ai sai cháu đi mua?
   - Cháu muốn mua tặng chị cháu nhân lễ Nô-en. Chị đã nuôi cháu từ khi mẹ cháu mất.
   - Cháu có bao nhiêu tiền?
   Cô bé mở khăn tay ra, đổ lên bàn một nắm xu:
   - Cháu đã đập con lợn đất đấy!
   Pi-e trầm ngâm nhìn cô bé. Rồi vừa lúi húi gỡ mảnh giấy ghi giá tiền, anh vừa hỏi:
   - Cháu tên gì?
   - Cháu là Gioan.
   Anh đưa Gioan chuỗi ngọc gói trong bao lụa đỏ có thắt nơ rất đẹp:
   - Đừng đánh rơi nhé!
   Cô bé mỉm cười rạng rỡ, chạy vụt đi. Cô bé ngây thơ đâu biết chuỗi ngọc này rất đắt tiền và Pi-e dành để tặng vợ chưa cưới của mình, nhưng rồi một tai nạn giao thông đã cướp mất người anh yêu quý.
   Ngày lễ Nô-en tới. Khách hàng ai cũng vui làm cho Pi-e càng đau lòng. Khi người khách cuối cùng bước ra, anh thở phào. Thế là qua được năm nay! Nhưng anh đã lầm.
   Cửa lại mở, một thiếu nữ bước vào. Cô lấy trong túi xách ra chuỗi ngọc lam:
   - Chuỗi ngọc này có phải của tiệm ông không ạ?
   - Phải.
   - Thưa... Có phải ngọc thật không?
   - Không phải thứ ngọc quý nhất, nhưng là ngọc thật.
   - Ông có nhớ đã bán cho ai không?
   - Một cô bé tên là Gioan mua tặng chị của mình.
   - Giá bao nhiêu ạ?
   - Tôi không khi nào nói giá tiền của quà tặng.
   - Gioan chỉ có ít tiền. Làm sao em mua nổi chuỗi ngọc này?
   Pi-e gói lại chuỗi ngọc và đáp:
   - Em đã trả giá rất cao. Bằng toàn bộ số tiền em có.
   Hai người đều im lặng. Tiếng chuông từ một giáo đường gần đó bắt đầu đổ.
   - Nhưng sao ông lại làm như vậy?
   Pi-e vừa đưa chuỗi ngọc cho cô gái vừa nói:
   - Hôm nay là ngày Nô-en. Tôi không có ai để tặng quà. Cho phép tôi đưa cô về nhà và chúc cô một lễ Nô-en vui vẻ nhé!
   Trong tiếng chuông đổ hồi, Pi-e và thiếu nữ cùng nhau bước qua một năm mới tràn trề hi vọng.


ST

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012

PH, HS tiểu học Nam Thành Công ủng hộ lớp học Hy vọng và các bệnh nhi

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

"Cháu không xin ạ!"

Chiều ngày mùng 7 Tết , chúng tôi đang ngồi trong một quán ăn trên đường vào Phủ Tây Hồ, một cậu bé chừng 12 tuổi địu đứa em trai chưa đầy 1 tuổi trước bụng, hai tay bê một rổ toàn kẹo cao su, tăm bông, ...tiến lại chỗ chúng tôi:
- Các cô các chú mua cho cháu nhé.
Tôi vốn không dùng mấy thứ này nên không mua mà rút trong ví ra tờ 10 nghìn đồng rất mới đưa cho cậu bé:
- Cô mừng tuổi em cháu.
Cậu bé xua tay và nói: Cháu không xin ạ!
- Cô mừng tuổi cho em cháu mà!- Tôi ngạc nhiên và cố đặt tờ tiền vào tay cháu.
Cậu bé vẫn không nhận và lễ phép chào chúng tôi rồi đi. Hành động của cậu bé đã làm tôi và những người trong đoàn suy nghĩ mãi.

KTT

Thứ Ba, 27 tháng 12, 2011

Gieo yêu thương

- Chị đi đâu mà tất tưởi thế?
- Tôi tranh thủ giờ giải lao ra nhà sách mua cho bọn trẻ ít sách truyện.
- Sao chị lại mua truyện cho chúng nó làm gì, để thời gian chúng nó còn học hành chứ?
- Chúng nó vừa thi học kì xong, suốt ngày chúi mũi vào truyện tranh, rồi chơi game, chỉ hại người thôi.
- Thế chị định cho chúng nó đọc truyện gì?
- Tôi tìm được một loạt truyện giáo dục lòng yêu thương, lòng trắc ẩn, tinh thần trách nhiệm, tinh thần quyết tâm, tính kiên trì... và cả một số truyện về danh nhân lịch sử rất tốt cho các cháu. Chị cũng nên mua về cho bọn trẻ nhà chị đọc. Mưa dầm thấm lâu chị ạ.
- Ông ấy nhà tôi là chúa ghét cái trò mua truyện cho chúng nó, mua về rồi lại ông nói ra, bà nói vào, buồn lắm.
- Những câu chuyện đó không chỉ giáo dục tính nhân văn, gieo yêu thương cho bọn trẻ...mà còn là những tấm gương sáng cho bọn trẻ noi theo và còn giúp chúng viết văn tốt hơn đấy chị ạ.
- Tôi sẽ nghe chị. Thôi thì mình cứ làm những điều tốt cho con. Còn bố con ông ấy cảm nhận được đến đâu thì tùy.
- Nghe chị nói thế tự nhiên tôi thấy buồn quá. Sao bây giờ, đến cả gieo vào lòng con trẻ tình yêu thương cũng khó thế sao!? Bố mẹ mà không có tiếng nói chung trong việc dạy người cho con thì làm sao trách nhà trường mải dạy chữ mà quên dạy người cho trò được.
- Ngẫm cho cùng tôi phải tự trách mình yêu thương chưa đúng cách thôi chị ạ.

KTT

Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2011

Có lỗi

- Nhiều lúc thấy có lỗi với con quá chị ạ.
- Sao thế? Tôi thấy chị cư xử với con cái đúng mực lắm cơ mà.
- Hôm nọ, vừa đi công tác về, thằng con lớn chạy ùa ra, ôm chầm lấy mẹ, hít hít hà hà, hôn lấy hôn để vào má mẹ, mồm liến thoáng: "Con nhớ mẹ lắm! Con nhớ mẹ lắm!"
- Chị sướng thế còn gì. Chả bù cho tôi, có đi đâu cả tháng về con cũng chẳng buồn hỏi lấy một câu, có khi mình phải chào nó trước.
- Vậy mà... tôi đang mệt nên gạt con ra và quát: "Lùi ra, để cho mẹ còn thở, mẹ đang mệt đứt cả hơi đây này." Thằng bé rơm rớm nước mắt, nửa định buông mẹ ra, nửa lại thôi, nhưng rồi nó quyết định buông mẹ ra và chạy biến vào trong phòng riêng. Lúc đó tôi cũng chẳng buồn để ý đến thái độ của con, mãi đến lúc ăn cơm, nhìn quanh chẳng thấy con đâu tôi mới tìm nó. Thấy mắt thằng bé đỏ hoe, hỏi nó tại sao nó chẳng nói chẳng rằng. Nó buồn lắm thì phải.
- Thì rõ là thế, đến người lớn mình mà bị phũ thế còn buồn nữa là trẻ con.
- Mấy hôm nay nó chẳng trò chuyện gì với tôi cả, tôi cố ý chọc cười nó hoặc tếu táo cho nó quên chuyện đó đi nhưng thằng bé vẫn cứ lánh mẹ.
- Vậy là con chị nó nhạy cảm và hay cả nghĩ nên mới thế chứ nhiều đứa, mẹ quát thế chứ quát nữa vẫn cứ nhơn nhơn rồi quên ngay ấy mà.
- Vậy nên tôi mới thấy mình có lỗi, giờ tôi phải làm thế nào hả chị?
- Thì chị gần gũi, yêu thương nó rồi nó hiểu ra và tha thứ cho chị thôi mà.
- Tôi cũng làm thế rồi nhưng thằng bé vẫn không thay đổi, có lẽ từ giờ trở đi sẽ chẳng bao giờ tôi lại được nó ôm hôn như thế nữa.
- Có gì đâu mà chị cứ nghiêm trọng hóa vấn đề lên thế?
- Nhiều khi người lớn mình cứ nghĩ là chuyện nhỏ nhưng thực ra đó là cả một vấn đề lớn đấy chị ạ. Khi đứa trẻ được người lớn công nhận cảm xúc của nó, nó cảm thấy được chia sẻ, cảm thấy mình được tôn trọng và nó sẵn sàng làm theo những điều người lớn mong muốn.
- Có mấy ai nghĩ được như chị đâu.
- Thế cho nên nhiều bà mẹ kêu là sao thời nay con cái chẳng biết nghe lời gì cả.

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

Cha hay mẹ?

- Theo chị, việc giáo dục con cái là trách nhiệm của cha hay mẹ?

- Đương nhiên là cả hai rồi, mà sao chị lại hỏi tôi câu đấy?

- Ý tôi là việc đôn đốc, nhắc nhở, kèm cặp con học hành ở nhà hằng ngày cơ.

- Thì tùy mỗi nhà, ai có thời gian hơn thì người đó sẽ đảm đương việc này.

- Bây giờ ai cũng bận, làm gì có thời gian, quan trọng là cha mẹ phải biết quan tâm đến con, có thể nói là hi sinh bản thân đi một chút (công danh, sự nghiệp, bạn bè, sở thích, …) để gần gũi con, chia sẻ với con về những khó khăn trong việc học cũng như trong các mối quan hệ với bạn bè của nó…

- Vậy thì chắc chắn mẹ là người làm được việc đó tốt hơn cha rồi.

- Tôi cũng nghĩ như chị, còn nhớ câu “Tương lai của con cái là công trình đồ sộ của các bà mẹ.”, mới nghe qua thì có vẻ như câu này đề cao công lao của người mẹ trong sự thành đạt của con cái, chẳng thấy bóng dáng người cha đâu cả. Nhưng tôi lại nghĩ câu đó như một lời nhắc nhở các bà mẹ về trách nhiệm của mình trong việc dạy con. Đa số trong các gia đình có mẹ quan tâm đến việc học của con thì con cái trưởng thành hơn. Tất nhiên  bên cạnh sự ân cần, dịu dàng và kiên nhẫn của mẹ thì không thể thiếu sự nghiêm khắc và định hướng của cha, “Một lời cha bằng ba lời mẹ” mà chị.

- Thế tại sao nhiều trẻ mồ côi, chẳng ai dạy dỗ hay định hướng mà vẫn học giỏi, vẫn đỗ Thủ khoa, vẫn là Thạc sĩ, vẫn là Tiến sĩ được?

- Đấy là những người có ý chí, nghị lực, biết tự định hướng cho bản thân, biết vươn lên trong cuộc sống… mà ai cũng yêu mến và ngưỡng mộ. Tôi đang nói với chị về bọn trẻ luôn được sống trong sự đủ đầy về tinh thần, về điều kiện vật chất…nhưng thiếu kĩ năng sống, thiếu sự trải nghiệm ngoài xã hội cơ.

- Đúng là phải cả cha, cả mẹ cùng giáo dục thì chúng mới nên người được. Hình mẫu và uy lực của cha luôn phải song hành cùng với sự dìu dắt, bảo ban bền bỉ của mẹ trên đường học hành của con.

- Thôi, tôi phải về xem mấy đứa học hành thế nào đây chị ạ.

KTT

Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2011

Con cảm ơn mẹ

Con cảm ơn vì mẹ đã luôn bên con, động viên và khích lệ con.

Con cảm ơn vì mẹ đã đặt niềm hi vọng nơi con để con cố gắng vươn lên.

Con cảm ơn vì mẹ đã nói cho con biết những thử thách gian nan trên đường đời.

Con cảm ơn vì mẹ đã không trách mắng con khi con làm sai điều gì mà tế nhị nhắc nhở bảo ban con.

Con cảm ơn vì mẹ đã lo lắng và nhắc con mua thuốc khi thấy con gầy vì làm việc vất vả.

Con cảm ơn vì mẹ đã vì con mà trăn trở và lo lắng cho công việc của con.

Con cảm ơn vì mẹ luôn nhắc nhở dạy bảo cho con những điều hay lẽ phải.

Con cảm ơn vì mẹ đã gieo niềm tin để con luôn vững bước trên đường đời.

Con cảm ơn vì mẹ đã dạy cho con biết làm việc nghĩa và có ích cho cộng đồng.

Con cảm ơn vì mẹ đã dạy con biết nhận lỗi và sửa lỗi.

Con cảm ơn vì mẹ đã dạy con biết cảm ơn cả những người coi thường mình.

Con cảm ơn vì mẹ đã dạy con biết yêu thương mọi người.

Con cảm ơn vì mẹ dạy con lòng trắc ẩn.

Con cảm ơn vì mẹ đã dạy cho con biết phải trái, sáng tối trong trường đời.

Con cảm ơn vì mẹ đã luôn nghĩ về con.

Con cảm ơn vì mẹ không trách con khi con chưa gọi điện cho mẹ mỗi ngày.

Con cảm ơn vì mẹ đã hiểu lòng con.

Con muốn cảm ơn mẹ thật nhiều...

Và con muốn nói với mẹ rằng: con yêu và nhớ mẹ nhiều lắm.

KTT

Thứ Năm, 14 tháng 7, 2011

Người quét chợ

"Nhớ dâng trà cúng sư thúc và dì Linh nghe con?" thầy nhắc chú tiểu khi thấy chú sửa soạn lên chánh điện để cúng ngọ.
 
"Bạch thầy, con nhớ," chú đáp.
Đó là câu mà thầy cứ nhắc chú mỗi ngày trước mỗi thời kinh. Chú chẳng biết sư thúc là ai, dì Linh là ai. Trên chiếc bàn thờ nhỏ đặt cạnh bàn Tổ, chú chỉ thấy hai cái bài vị được viết bằng chữ Hán chứ chẳng có hình ảnh gì cả. Vì thầy nhắc mãi nên chú không lúc nào quên, vậy mà thầy cứ nhắc. Nghe nhắc hoài, ban đầu chú hơi bực mình, nhưng riết rồi cũng quen. Và khi chú rót trà cúng cho hai người đó, chú cũng làm như một cái máy chứ không suy nghĩ gì. Chùa chỉ có một thầy một trò, nên thầy thương chú lắm và chú cũng quí kính thầy vừa như cha mẹ, vừa như thầy, và thỉnh thoảng như một người bạn đạo. Chú không có tên thế tục. Chú chẳng hiểu lý do vì sao. Có lẽ vì chú sống ở chùa từ nhỏ nên thầy đã không đặt tên thế tục cho chú mà chỉ đặt cho chú một pháp danh là Thanh Thị. Chú lớn lên ở trong chùa, quen với tên gọi mà thầy đặt cho, chẳng thắc mắc gì. Nhưng đến khi được thầy dạy cho học chữ Hán, chú mới hiểu được cái tên đọc nghe như tên con gái của mình lại có một ý nghĩa kỳ cục, không được thanh nhã cho lắm. Nó có vẻ như được đặt ra để đánh dấu một kỷ niệm nào đó của thầy, hoặc cho chính chú. Chú băn khoăn suy nghĩ mãi về ý nghĩa của cái tên mà mình đeo mang. Nhân lúc cùng thầy nhổ cỏ sau vườn chùa, chú hỏi:
"Bạch thầy, tại sao thầy đặt tên con là Thanh Thị?"
"Vì thầy thích đặt như vậy," thầy chú thản nhiên trả lời.
"Lâu nay con tưởng rằng chữ thị có nghĩa là đây, như vầy, giống như chữ thị trong như thị, đích thị hoặc chữ thị như trong biểu thị, thị hiện... nhưng mới hôm qua, thầy viết tên con bằng chữ thị có nghĩa là chợ. Con không rõ là tên con sao lại có cái nghĩa không được hay. Xin thầy giải thích cho con."
 
Thầy nghiêm giọng nói:
"Chỉ là tên gọi thôi, có gì mà phải bận tâm, nhổ cỏ đi."
Chú cúi xuống nhổ cỏ tiếp, nhưng được một lúc, chú lại hỏi:
"Con biết đó chỉ là tên gọi thôi, nhưng tên gọi cũng phải nói lên một cái gì, một ý nghĩa gì chứ."
"Thì chợ cũng là một cái gì, một ý nghĩa gì rồi đó," thầy đáp.
"Con thấy chợ chỉ có ý nghĩa là dơ, ồn ào, phức tạp... toàn là xấu không à. Con không tìm ra được ý nghĩa nào hay đẹp ở trong nó. Khi thầy đặt tên con, chắc chắn là thầy có nghĩ đến một ý tưởng hay một hình ảnh gì đó về cái chợ, phải không, bạch thầy?"
"Nhiều chuyện quá," thầy nói, "nhổ cỏ đi."
 
Chú im lặng nhổ cỏ, không dám hỏi nữa. Nhưng trong đầu óc chú bắt đầu nẩy ra những suy tưởng, những phán đoán về sự đặt tên của thầy. Chú nghĩ, năm nay chú đã mười sáu tuổi rồi, có thể nói là chú đủ trưởng thành để nghe thầy kể về lai lịch của chú. Lâu nay mỗi lần chú hỏi đến vấn đề đó, thầy chỉ nói là chú chưa trưởng thành, chưa đến lúc cần biết. Nhưng dù thầy chẳng nói ra, chú cũng không đến nỗi ngu độn để không biết rằng chú là một đứa bé mồ côi. Ai cũng có cha mẹ, riêng chú không có. Cái thực tế đó làm gì thầy che giấu được. Nhưng tại sao lại đặt tên là Thị, có nghĩa là chợ? Có lẽ... có lẽ cha hay mẹ của chú là người bán hàng ngoài chợ, hoặc là người chủ chợ. Nhưng ba mẹ chú đâu mà để cho thầy phải đặt tên? Cũng có thể mẹ chú đi ngang chợ thì sinh ra chú. Không, nếu mẹ chú sinh ra chú ở chợ thì cũng đem về nhà, và chú vẫn còn người mẹ đó chứ chú đâu có mồ côi để cho thầy phải đặt tên! Hay là... hay là thầy lượm được chú ngoài chợ, đem về chùa nuôi cho đến ngày hôm nay? Chính vì kỷ niệm đó mà thầy đặt tên cho chú là Thị (chợ)?
 
"Bạch thầy..." chú không ngăn được nỗi háo hức tìm hiểu thân phận mình, lại mở miệng hỏi.
"Gì nữa đây?" thầy không nhìn chú.
"Có phải... có phải con là đứa con rơi thầy lượm ở ngoài chợ đem về hay không?"
Thầy ngưng tay nhổ cỏ. Im lặng một lúc, thầy tiếp tục nhổ, vừa nói:
"Nhổ cỏ."
 
Đến chiều, sau giờ ăn cháo, thầy gọi chú cùng dạo sân với thầy. Hai thầy trò tản bộ cho đến vườn sau, nơi có hai ngôi mộ mà thỉnh thoảng chú thấy thầy ra thắp hương. Một cái mộ thì chú biết là của sư thúc chú, còn cái còn lại chú chẳng biết của ai và cũng không để ý lắm.
"Con đã dâng trà cho sư thúc và dì Linh lúc công phu chiều rồi hả?" thầy hỏi.
"Bạch thầy, rồi," chú trả lời như máy.
Thầy nhặt mấy chiếc lá nằm trên mộ sư thúc, nhổ vài bụi cỏ mới mọc quanh hai ngôi mộ. Rồi thầy bắt đầu kể chuyện cho chú nghe.
*
Thầy Hải Chấn đang ngồi đọc sách thì Hải Thanh, sư đệ của thầy, bước vào, mặt buồn dàu dàu. Hải Chấn hỏi:
"Gì mà sư đệ có vẻ rầu lo vậy?"
Hải Thanh buồn bã đứng nhìn ra cửa sổ một lúc rồi nói:
"Đệ... đã phạm giới..." Hải Thanh nói đến đó thì rơi nước mắt.
Hải Chấn kéo tay sư đệ ngồi xuống, vỗ về:
"Có trầm trọng lắm không? Đệ đã sám hối chưa?"
"Đã sám hối. Nhưng đó là cho tự tâm. Không giải quyết gì được cho hoàn cảnh."
"Chuyện gì vậy? Nói đi, để xem huynh có thể giúp gì cho đệ không."
"Huynh đừng trách mắng đệ nghe..."
"Phạm tội thì sám hối; huynh trách mắng có thay đổi gì được đâu! Nói đi, đừng chất chứa trong lòng," Hải Chấn nói với giọng đầy cảm thương.
Hải Thanh đưa hai tay ôm lấy đầu, mặt gục xuống bàn, nói:
"Cô ấy đã có mang."
Hải Chấn sửng sốt một lúc, rồi thở dài, hỏi:
"Cô ấy là ai vậy?"
"Sư huynh không biết đâu. Cô ấy không hề đến chùa mình."
"Vậy làm sao đệ quen để đến nỗi..."
"Thôi, huynh hỏi làm gì chuyện đó cho mệt. Bây giờ, đệ chỉ hỏi huynh một điều là đệ phải làm sao đây?"
Hải Chấn nhíu mày, thấy khó xử. Theo luật, Hải Thanh đã phạm một trong các tội Ba-la-di, tức những trọng giới mà đương sự bị coi như mất cả giới thể, không còn là tỳ-kheo thanh tịnh nữa, không thể chữa được nữa—như cây dừa, cây cau, đã chặt đi khúc đầu (đoạn đầu) thì không thể mọc lại tàu lá mới. Đã tới nước đó thì Hải Chấn biết góp ý với Hải Thanh điều gì nữa. Hải Chấn thở dài nói:
"Huynh cũng chẳng biết phải góp ý với đệ làm sao. Chuyện không đơn giản đâu. Đệ phải nói rõ sự việc may ra..."
Hải Thanh ngập ngừng lúc lâu rồi kể:
"Cũng vì cái hạnh quét chợ mà đệ vướng phải nghịch cảnh này. Huynh cũng biết mà, mỗi sáng đệ quét từ sân ra tới chợ, mặc ai cười ai chê, đệ quét thì cứ quét, vừa quét vừa quán niệm về sự cấu bẩn của thế gian và thanh tịnh của niết bàn... năm này qua năm nọ, mưa hay nắng, đệ cũng không bỏ ngày nào. Thế rồi... cô ấy lưu ý đến đệ. Và... một ngày nọ, đệ sa ngã."
"Buồn thay cho đệ. Cô ấy bán ngoài chợ à?"
"Không, cô chỉ đi ngang chợ thôi."
"Vậy bây giờ gia đình cô ấy đã biết rằng chính đệ đã làm... cái chuyện gì đó chưa?"
"Chưa, cô ấy không nói ra là ai. Nhưng... có lẽ có ngày họ cũng biết. Mà họ có biết hay không thì... mình cũng phải tự liệu."
"Tự liệu?"
"Ý đệ nói là mình phải giải quyết vấn đề đó bằng cách đến nói chuyện với gia đình cô ấy, xin hỏi cưới cô ấy, hoặc là... đệ cùng cô ấy trốn đi xa để khỏi mang tai tiếng cho gia đình cô ấy và cho chùa nữa."
"Nghĩa là đệ sẽ hoàn tục?"
"Chứ biết sao bây giờ. Huynh có cách gì hay hơn không?"
Hải Chấn ứa nước mắt, thương sư đệ mình gặp nghịch duyên đến phải bỏ đường tu, nhưng chẳng biết phải giúp bằng cách nào. Hải Chấn ngồi lặng thinh. Một chặp, Hải Chấn nói:
"Huynh chẳng biết cách nào hết, mong đệ tha thứ cho sự chậm lụt của huynh. Huynh nghĩ chắc phải làm theo một trong hai cách mà đệ nêu ra thôi. Mà cho dù chọn giải pháp nào, huynh cũng xin lưu ý đệ một điều rằng đệ nên giải bỏ hình thức tăng sĩ trước khi..."
"Đệ hiểu."
Hai huynh đệ im lặng, mỗi người một dòng suy tưởng.
Hải Chấn nhớ lại bao kỷ niệm mà thầy cùng Hải Thanh trải qua nơi ngôi chùa này từ thuở còn để chóp đến nay. Hải Thanh thông minh, nhanh nhẹn mà lại siêng năng nên cái gì cũng vượt qua mặt sư huynh. Nhưng đến khi sư phụ sắp viên tịch, sư phụ lại giao trọng trách trụ trì cho Hải Chấn. Lúc đó Hải Chấn đã không nhận vì cho rằng sư đệ vượt trội hơn mình quá nhiều. Hải Thanh cũng không chịu nhận chức trụ trì, còn sư phụ thì nhất quyết phải giao chức ấy cho Hải Chấn dù Hải Chấn học hành chậm lụt. Rốt cuộc Hải Chấn phải nhận. Giờ ra đi, sư phụ không nói gì nhiều ngoài việc khuyên răn hai huynh đệ nương nhau tu tập, và những lời cuối cùng của sư phụ đều nhắm vào Hải Thanh, cảnh giác Hải Thanh là không nên chú trọng vào sở kiến sở văn mà bỏ quên phần tu tập. Sau khi sư phụ mất, Hải Thanh thức tỉnh, nỗ lực hành trì, không bao giờ chểnh mảng. Rồi một ngày đó, Hải Thanh bỗng phát nguyện quét luôn cả chợ thay vì chỉ quét sân chùa. Hải Chấn không ngăn cản chi hạnh nguyện của sư đệ mình vì nghĩ rằng đó cũng là hạnh tốt thôi. Hải Thanh cho rằng hình ảnh người tu sĩ hiền lành nhẫn nại có mặt nơi phố chợ đông người sẽ cảm hóa và gây được tín tâm cho nhiều người. Ngoài ra, quét chợ cũng là một cách tu luyện cho tâm được định tĩnh ngay giữa chốn náo động. Không ngờ, chính hạnh nguyện cao đẹp đó lại đốn ngã Hải Thanh trong một nghịch duyên đau xót.
Hải Thanh không ôn lại kỷ niệm xưa mà chỉ ưu tư vấn đề xảy ra trước mắt. Hải Thanh nhớ đến Thùy Linh, cô gái đã có mang với mình. Cô ấy rất đẹp và là một tiểu thư con của quan huyện. Với sự thông minh vốn có, lại thêm sự giúp đỡ bày mưu của cô nữ tì, cô ấy đã tạo đủ điều kiện để lôi kéo Hải Thanh ngã vào vòng tay mình. Từ những phút đầu Hải Thanh đã biết mình rơi vào lưới tình, nếu không thức tỉnh quay lại ngay với thiền môn thì khó bề giữ gìn được đạo hạnh của mình, nhưng bóng sắc lộng lẫy kiêu sa của nàng đã không để cho Hải Thanh chùn bước mà còn kéo thầy lậm sâu thêm vào cơn men ái dục. Bây giờ chuyện đã lỡ rồi, không cưỡng lại được nữa. Hải Thanh muốn rủ Thùy Linh cùng bỏ huyện này trốn đi với mình qua xứ khác sinh sống và cũng để tránh tiếng cho cả đôi bên, nhưng Thùy Linh không dám. Nàng đã ở lại để rồi không che dấu được cái thai càng lúc càng lớn. Nàng đã bị cha đánh đập, mắng chửi dữ dội. Hải Thanh nghe nữ tì nói lại như vậy nhưng chẳng biết phải làm sao. Nhiều lúc Hải Thanh muốn lẻn vào tư dinh quan huyện để cứu nàng ra khỏi đó, nhưng lính gác canh phòng nghiêm mhặt, không cách gì vào được. Dù đã từng xem thế sự như một giấc mộng hư huyễn, trước tình cảnh đau xót mà Thùy Linh phải hứng chịu, Hải Thanh không khỏi nghe tan nát trong lòng.
Đêm đó, hai huynh đệ ngồi thức trắng bên bàn sách. Đến lúc mờ sáng, Hải Thanh mới rời phòng sách vào phòng riêng, lấy khăn chít lấy đầu để che dấu cái đầu tròn tu sĩ của mình, thay đổi y phục như một người thế tục rồi từ giã Hải Chấn mà đi. Hải Chấn hỏi:
"Đệ đi đâu vậy?"
"Đến tư dinh quan huyện nói chuyện thẳng với cha cô ấy."
"Sao huynh thấy ái ngại cho chuyến đi này của đệ quá. Thấy có gì không ổn. Đệ liệu có thể thuyết phục được cha mẹ cô ấy không?"
Hải Thanh không đáp, chỉ nhún vai rồi đi. Hải Chấn níu lại, dúi vào bọc vải của sư đệ một túi tiền nhỏ:
"Đó là tiền riêng của huynh, không phải của chùa đâu, đừng ngại. Đệ mang theo để có gì..."
"Cám ơn huynh. Đệ đi đây. Nếu có tin tốt đẹp, đệ sẽ cùng Thùy Linh ghé thăm huynh trước khi rời xứ này."
Và Hải Thanh đi luôn, không trở lại. Hải Chấn bồn chồn lo lắng suốt cả ngày và đêm hôm đó. Sáng hôm sau, khi Hải Chấn ra vườn thì thấy xác Hải Thanh nằm ở trước sân chùa, thân thể tím bầm vì bị đánh đập đến tắt thở. Hải Chấn đến khiếu nại với quan huyện nhưng huyện đường đóng cửa, lính gác xua thầy về. Thầy đành ngậm ngùi chôn xác sư đệ sau vườn chùa. Nghĩ rằng có làm to chuyện lên thì sư đệ nhắm mắt cũng không được yên.
Hai tháng sau, Thùy Linh sinh hạ một bé trai. Nửa đêm nàng lẻn trốn khỏi dinh, mang con ra chợ, ngồi nơi sạp hàng mà ôn lại chuyện xưa khi nàng đi ngang đây và bắt gặp nhà sư quét chợ lạ kỳ. Nàng ngồi giữa trời sương cho đến sáng thì chết, tay vẫn còn ôm đứa bé sơ sinh đang khóc.
Quan huyện lâu nay cố che dấu chuyện con gái mình nhưng nay, cái chết của Thùy Linh ngay giữa chợ đã làm cho câu chuyện nhanh chóng truyền đi; ông bực dọc và căm giận đến độ sai lính treo bảng thông báo rằng ông đã từ đứa con trắc nết phá hoại gia phong, rằng ông không chịu trách nhiệm về cái chết của Thùy Linh cũng như không chấp nhận đứa con của người quét chợ. Thông cáo của ông có vẻ như ngầm phán rằng đứa bé phải chịu chết giữa chợ đời, không ai được phép cứu nó. Vì uy quyền hống hách cũng như sự giận dữ của quan huyện, không ai dám mang đứa bé sơ sinh về nuôi. Người ta gỡ đứa bé khỏi vòng tay lạnh giá và cứng đờ của mẹ nó rồi đặt nó nằm trong một chiếc nôi, để giữa chợ để chờ kẻ nào động lòng trắc ẩn đến mang nó đi. Những người đàn bà bán hàng ngoài chợ đã chăm lo sữa cho đứa bé suốt ngày đó, nhưng cũng không ai chịu nhận đứa bé về. Còn xác Thùy Linh thì được quấn sơ sài bằng một cái chiếu, đặt ở gần đó. Đến chiều tối thì chuyện đến tai Hải Chấn. Thầy liền tức tốc ra chợ, ôm chiếc nôi nhỏ mang về chùa. Còn xác Thùy Linh, thầy bảo những người phật-tử bán hàng ở chợ giúp đem về chùa chôn. Ấy vậy mà quan huyện không dám động đến Hải Chấn vì cả nể đức hạnh và uy tín của thầy. Đứa bé được yên thân sống và lớn lên trong cửa chùa.
*
Nước mắt ràn rụa trên hai gò má bầu bĩnh, chú tiểu Thanh Thị quì xuống chân thầy:
"Tạ ơn thầy cứu sống và nuôi dưỡng con."
Thầy đỡ chú dậy, nói tiếp:
"Sư thúc của con có linh vị thờ trong chùa mà thầy thường nhắc con rót trà dâng cúng chính là Hải Thanh cha của con đó. Sư thúc với thầy tu học với nhau từ nhỏ nên ngoài tình đạo bạn còn coi nhau như anh em ruột. Chuyện của sư thúc khiến thầy đau lòng quá mà không biết giúp bằng cách nào. Nuôi dưỡng con chỉ là một chuyện nhỏ để biểu lộ sự mến tiếc của thầy đối với sư thúc thôi. Huống chi, làm sao thầy có thể bỏ mặc một đứa trẻ kêu khóc không người đoái hoài..."
Chú tiểu Thanh Thị bây giờ đã hiểu vì sao chú có cái tên lạ kỳ đó: Thanh là tên của cha chú còn Thị chính là chợ, là nơi ghi lại kỷ niệm chua xót đầu đời của cha chú, mẹ chú, và cả chú nữa.
"Vậy quan huyện hiện nay chính là ông ngoại của con hở, bạch thầy?"
"Không. Ông và phu nhân đều đã qua đời. Quan huyện hiện nay là người mới được bổ nhiệm."
"Vậy những người ở ngoài chợ... đều biết chuyện của con hở thầy?"
"Mười sáu năm rồi, nhiều người đã dọn đi xứ khác, nhiều người đã chết, chỉ còn lại rất ít người là biết chuyện của con, nhưng chắc họ cũng quên khuấy đi rồi. Mà sao con hỏi vậy? Con không muốn người ta biết rằng con đã xuất thân từ đâu, phải vậy không?"
"Bạch thầy không phải, không phải."
"Như vậy thì tốt. Nhân cách không nằm ở chỗ xuất thân từ đâu mà từ chính giá trị thực có của mình."
"Dạ, con biết," chú cúi mặt nói nhỏ.
Theo như lời thầy kể, rồi nhìn hai ngôi mộ song song trước mặt, đọc những chữ Hán viết trên mộ bia, chú thấy rõ đó chính là song thân của mình. Chú quỳ xuống nhìn thật lâu nơi hai mộ bia, lặng người một lúc lâu, chú bật khóc thảm thiết.
Vậy đó mà chú vẫn không sao tẩy xóa được nỗi mặc cảm đè nặng trong tâm khảm mình: rằng chú là một đứa trẻ vô thừa nhận, được sinh ra bởi một người cha tu sĩ phá giới, một người mẹ khuê các phá gia phong; rằng chú bị bỏ rơi giữa chợ đời như một tội nhân tử hình ngay từ lúc sơ sinh. Bao nhiêu ý nghĩ đó ám ảnh chú suốt mấy ngày kế tiếp sau khi nghe thầy kể rõ sự tình. Thầy theo dõi từng biến động tâm tư hiện trên mặt chú, bèn gọi chú hỏi chuyện:
"Con sẽ mang buồn cho đến bao giờ? Có sinh tức có diệt, sao phải ôm mãi nỗi đau khổ biệt ly như thế!"
Chú lặng thinh không đáp lời thầy. Thầy biểu lộ tình cảm, lấy tay xoa đầu chú:
"Thương cha mẹ, con rán tu học để cha mẹ vui lòng. Cha con là một tu sĩ thông minh, có tuệ căn, làu thông kinh điển. Chỉ một phút yếu lòng mà đánh mất sự nghiệp cao cả. Con có thương cha thì nối tiếp sự nghiệp đó mới phải, sao cứ ôm lòng buồn rầu mãi. Con đến rót trà dâng ba đi, rồi lên tụng kinh."
Chú cúi mặt bặm môi một chặp, bỗng ngước lên nói:
"Chỉ có thầy mới là cha con thôi. Ông ấy không phải là cha con!"
Nói rồi chú vụt đứng dậy, bỏ đi vào phòng riêng, đóng cửa lại. Thầy sững sờ ngồi nhìn theo, lắc đầu buồn bã. Chú bỏ tụng kinh chiều hôm đó. Thầy lặng lẽ đắp y áo, thắp hương, rót trà cho sư đệ Hải Thanh rồi thầy tụng kinh thay chú.
Suốt mấy ngày, chú vẫn không ra khỏi phòng. Thầy đến gõ cửa, gọi mãi mà không được. Mọi việc trong chùa thầy làm thay chú hết. Chú không ra khỏi phòng nên cũng nhịn ăn luôn cả mấy ngày. Hai thầy trò sống bên nhau mười sáu năm rồi, chưa lần nào vào bữa ăn mà thiếu thầy hay thiếu trò. Cho nên, khi chú nhịn, thầy cũng nhịn theo, không buồn ăn nữa, chia xẻ nỗi đau khổ nặng nề của chú. Đến ngày thứ tư, chú mới mở cửa bước ra, phờ phạc, bệnh hoạn. Chú đến quỳ dưới chân thầy và khóc nức nở. Thầy chỉ lấy tay xoa đầu chú.
Hai thầy trò bỗng dưng mà sống một cuộc sống lặng câm, buồn tẻ. Thầy để chú tự do trong những suy tưởng riêng tư chứ không gợi chuyện gì với chú cả. Không khí trong chùa vì vậy mà nặng nề. Cho đến một ngày nọ, sau khi cùng làm lễ sám hối với thầy xong, chú mới cất được gánh nặng trong lòng. Chú thưa với thầy:
"Con đã sai lầm. Con không thể phủ nhận công ơn sanh thành của cha mẹ."
"Tốt, con biết vậy là tốt. Mẹ con vì sinh mạng của con, vì muốn lưu giữ giọt máu và hình bóng của cha con mà nhẫn nhục sống giữa bao lời xỉ vả, bao trận đánh đập của gia đình để chờ ngày sinh ra con. Mẹ con tuy phá gia phong nhưng, theo thầy, bà là người tinh mắt, thông minh, một phụ nữ đức hạnh biết vượt lên cái hình thức bề ngoài để nhìn thấy được giá trị tinh thần nơi cha con. Còn cha con, tuy phạm cấm giới, nhưng biết ăn năn, biết trách nhiệm, đã can đảm bước vào tư dinh của ông ngoại con với ước mong là cứu được hai mẹ con ra ngoài... và cha con đã chết vì dám đứng ra đối đầu với nguy hiểm. Với truyền thống, với tập tục, cả hai đều bị lên án. Nhưng họ đã chết một cách cao cả, ít nhất là đối với sinh mạng của con, phải không? Ở một khía cạnh nào đó, một hoàn cảnh đặc biệt nào đó, con sẽ thấy rằng cái mà người ta gọi là truyền thống, tập tục, gia phong, lễ giáo v.v... thật ra chẳng là gì cả. Rỗng tuếch! Chỉ có những tấm chân tình mới thực sự là có ý nghĩa mà thôi."
"Dạ, con hiểu," chú nói trong giọng xúc động và tri ân thầy đã chỉ giáo.
Chú không dám coi thường cha mẹ mình nữa. Chú thăm mộ cha mẹ hàng ngày, chú rót trà dâng cha mẹ vào mỗi thời kinh. Sư thúc và dì Linh, chú không còn gọi hai tên đó nữa mà gọi bằng cha mẹ. Chú cảm thấy có cái gì ngọt ngào và khiến chú ấm lòng khi gọi lên hai tiếng cha mẹ đó. Tuy nhiên, trên thực tế, chú chỉ vui sướng sống trong tình cảm và vòng tay vô hình vô ảnh của cha mẹ; còn đối với những mặc cảm về thân phận mình, chú vẫn không sao tẩy xóa đi một cách thoải mái được. Đến nỗi khi đi ra đường với thầy, chú có cảm giác như mọi người đang nhìn mình, xầm xì, chỉ trỏ, bàn tán về "người quét chợ". Từ đó, chú hết muốn ra khỏi chùa. Và đôi lúc, chú muốn cải đổi cái tên Thanh Thị mà chú mang. Chú thấy cái tên đó chỉ nhắc nhở chú về thân phận buồn tủi của chú mà thôi.
Vì thương chú, và vì chưa biết cách nào giải tỏa mặc cảm của chú một cách hữu hiệu, thầy cũng chiều lòng chú, không sai chú ra ngoài nhiều và cũng tránh cho chú những dịp phải ra trước đám đông.
Trải qua bốn năm, với tuổi đời thêm lớn, với sự học hỏi giáo lý, với sự tu tập thiền định, và với sự tiếp thọ đại giới để trở thành một vị tỳ kheo, chú dần dần thấy vơi đi những tình cảm lưu luyến xót xa cho chuyện tình thương tâm của cha mẹ. Nhưng cái mặc cảm sợ người khác biết rõ thân phận mình vẫn cứ đeo bám mãi trong lòng chú, không sao gột bỏ. Thầy biết vậy, cố gắng tháo gỡ cái mặc cảm đó cho chú lần nữa bằng một cuộc nói chuyện sau thời tụng kinh khuya:
"Thanh Thị, con đã trở thành một vị đại đức, một vị lãnh đạo tinh thần xứng đáng cho đồ chúng noi gương tu tập. Vậy mà thầy thấy con như vẫn còn ôm ấp cái mặc cảm rằng mình thấp hèn, phải vậy không? Con nói đi, cái gì khiến con nghĩ như thế? Con có biết rằng chỉ một cái phiền não nhỏ nhặt còn sót lại trong tâm cũng đủ ngăn trở con tiến đến giải thoát hay không?"
Thanh Thị không nói không rằng, lặng lẽ bỏ vào phòng. Thầy đến gõ cửa, đứng ngoài cửa nói vọng vào:
"Hãy nhìn kỹ những gì thầy làm. Nếu việc thầy làm khiến con thấy thầy không xứng đáng là thầy của con nữa thì con hãy rời thầy mà đi tìm một minh sư khác để tham vấn. Con không thay đổi thì suốt một đời ở bên thầy cũng chỉ vô ích mà thôi. Làm sao thấy được vòm trời giải thoát chứ!"
Nói rồi thầy bỏ đi. Thanh Thị thấy không khí im quá, biết là thầy không còn đứng ngoài cửa phòng mình. Thanh Thị thắc mắc không hiểu thầy đi đâu và làm gì. Chú bước ra, tìm thầy. Thầy không có trong chùa. Thầy đã đi ra ngoài. Chú bước ra cổng chùa nhìn hai bên thì thấy thầy đang cầm chổi quét ở xa xa. Thầy quét về hướng chợ. Chú bặm môi, rồi cắn răng chạy vào phòng mình, ôm mặt khóc như một đứa trẻ. Thầy đã quét chợ như cha chú đã làm trước đây. Thầy muốn chứng minh cho chú thấy rằng việc quét chợ không có gì xấu mà còn là một hạnh nguyện cao cả chỉ có cha chú mới làm nổi. Nhưng, sự cố gắng của thầy không mang lại kết quả gì. Chú vẫn không sao chấp nhận được hành vi quét chợ cho dù thầy có khoác lên đó bao nhiêu ý nghĩa cao đẹp.
Khi thầy quét chợ về, cất chổi dưới bếp, chú đón lạy thầy ngay ở thềm bếp, năn nỉ:
"Lạy thầy, xin thầy đừng vì con mà phải nhọc đến thân tâm như thế. Xin thầy đừng làm vậy nữa, con không chịu nổi."
Thầy không nói. Ngày mai thầy lại tiếp tục quét chợ. Chú lại lạy lục xin thầy chấm dứt. Thầy kiên quyết:
"Ta chỉ ngưng khi nào con thực sự đốt cháy được cái mặc cảm và ý nghĩ cho rằng quét chợ là việc xấu hay thấp hèn. Con không thay đổi, sẽ không giải thoát, sẽ không tìm thấy an lạc cho dù đang khoác mặc tăng bào. Và nếu con không thay đổi, ta sẽ quét chợ cho đến khi nào ta nhắm mắt mới thôi."
Thầy tiếp tục quét. Thanh Thị vẫn không thay đổi mà còn đau khổ hơn. Đến nỗi, chú bỏ thầy mà đi, chỉ ghi lại vài dòng vắn tắt rằng chú muốn đi tham học ở phương xa.
Chú đi xa thật xa khỏi nơi chốn sinh ra và trưởng thành của mình để xóa đi bao hình ảnh, bao ý nghĩ đau buồn về thân phận. Chú tìm tới nhiều vị thầy để học hỏi, nhưng không vị thầy nào đả thông được những mặc cảm của chú. Một hôm, nghe đến danh tiếng của một vị thiền sư tên là Đại Ngốc, chú tức tốc tìm đến vị này để học đạo vì chú hy vọng rằng ông ta cũng mang một cái tên không được tao nhã, có thể ông ta sẽ có thuốc hay để chữa căn bệnh mặc cảm của chú. Chú nghĩ có lẽ đằng sau cái tên của vị thiền sư này cũng mang một quá khứ nếu không đau xót như chú thì cũng cay chua buồn cười chứ chẳng không.
Thiền sư Đại Ngốc ẩn cư trong một am tranh trên núi cao. Khi lên tới nơi, chú thấy một cái bảng nhỏ treo trên một thân cây: "Đại Ngốc Am". Chú bước vào đảnh lễ thiền sư, hỏi ngay:
"Bạch thầy, làm sao có thể gột bỏ được một danh từ chỉ đem lại cho mình những buồn phiền, khổ đau?"
"Nó chỉ là một tên gọi giả tạo thì cần gì phải gột bỏ!"
"Nhưng... rõ ràng là nó đeo bám và gợi lên bao điều đau xót cho con từ nhiều năm nay."
"Đeo bám chỗ nào? Gợi lên cái gì? Ở đâu? Nói ta nghe!"
Thanh Thị hốt nhiên giác ngộ lẽ sinh diệt huyễn hóa của muôn sự muôn vật, liền sụp lạy thiền sư mà về. Chú đi ngày đêm không dừng nghỉ, những mong về quỳ dưới chân thầy mà sám hối.
*
Từ hai năm rồi, khi Thanh Thị bỏ chùa mà đi, thầy Hải Chấn cứ mang chổi ra quét sân chùa rồi quét luôn tới chợ. Ban đầu thầy quét chỉ để thức tỉnh Thanh Thị, nhưng khi quét, thầy cảm nhận được nhiều ý nghĩa cũng như công dụng tu tập ngay trong chính sự việc quét chợ đó. Thầy tập trung tâm mình vào từng động tác quét, lắng nghe tiếng chổi khua nhẹ trên đất, nhìn ngọn chổi vờn trên cỏ rác... không phút giây nào mà không lắng lòng vào việc quét. Đến độ, thầy với cây chổi chỉ là một. Vì vậy, âm thanh náo loạn của chợ búa không ảnh hưởng, không tổn hại gì đến tự tâm thanh tịnh của thầy. Chính trong loạn động thầy tìm thấy sự tịch lặng. Và thầy có thể an lạc trong chính việc quét chợ tầm thường hàng ngày. Trong khi đó, hình bóng của thầy, việc quét dọn của thầy giữa chợ đời cũng làm cho khu chợ sạch sẽ hơn, bớt huyên náo xô bồ, và người ta cũng bớt cạnh tranh cãi vả nhau. Mỗi lúc thấy thầy quét đến chợ, người ta bỗng dưng giảm chuyện nói năng, có nói thì nói nhỏ giọng xuống. Đức độ của thầy làm thay đổi không khí chợ một cách rõ rệt.
Hôm nay thầy đang quét đến giữa chợ, bỗng có người nắm lấy cây chổi của thầy, nói với giọng cung kính:
"Bạch thầy, thầy hãy về nghỉ ngơi để con quét thay thầy."
Thầy ngưng tay ngước nhìn và thấy Thanh Thị. Khuôn mặt của chú ấy không còn dấu vết của mặc cảm, khổ đau và phiền não. Thầy mỉm cười trao chổi cho chú quét, và thầy bước theo chú, từng bước chậm.
Từ đó, cứ mỗi sáng, người ta thấy hai thầy trò tu sĩ cùng quét đường, quét chợ. Bóng dáng họ xuất hiện nơi đâu, sự an lạc lan tỏa ra đến đó.
Hai năm sau, thầy Hải Chấn viên tịch. Trước khi từ giã cuộc đời, thầy gọi Thanh Thị đến bên thiền sàng, trao cho Thanh Thị cây chổi mà thầy thường dùng để quét chợ hàng ngày:
"Đời thầy mấy mươi năm học đạo không ngờ đến tuổi xế chiều mới tìm thấy được đạo lớn từ cây chổi tầm thường này. Đây là tất cả công phu và ý chỉ của thầy. Con hãy giữ lấy mà đi cho trọn con đường của con."
Nói rồi thầy hóa. Thanh Thị cất cây chổi đó trong phòng riêng của mình như một kỷ vật ghi lại hình ảnh cao đẹp của cha, của mẹ, và nhất là của thầy mình.
Sáng hôm sau, Thanh Thị vẫn cứ quét chợ. Người ở chợ thấy Thanh Thị quét một mình thì biết rằng thầy Hải Chấn đức độ khả kính của họ đã mất.
Thanh Thị quét chợ cho đến tuổi già. Mấy mươi năm không hề xao lãng. Bây giờ Thanh Thị đã trở thành một vị hòa thượng đạo đức thanh cao, nổi tiếng với cây chổi và hạnh nguyện quét chợ. Hải Thanh quét chợ sáu năm. Hải Chấn quét chợ bốn năm. Riêng Thanh Thị thì quét chợ đến sáu mươi năm. Bao khuôn mặt mới có cũ có, thay nhau ngồi bán hoặc đi mua sắm ở khu chợ, không ai mà không biết đến Thanh Thị quét chợ. Hình ảnh Thanh Thị đã trở nên quen thuộc và gắn liền với khu chợ khiến cho mọi người nẩy ý lấy tên vị hòa thượng này để đặt cho khu chợ: chợ Thanh Thị—một cái chợ sạch. Ngày Thanh Thị ngưng quét thì tuổi đã tám mươi tư. Ngày ấy, bầu trời u ám. Ngoài khu chợ, cỏ rác đầy mà chẳng thấy tăm dạng Thanh Thị đâu. Chợt nghe chuông chùa vẳng lại ba hồi buồn bã. Mọi người ở khu chợ bỗng sa lệ vì biết rằng vị hòa thượng già mang tên Thanh Thị sẽ không bao giờ cầm chổi ra quét chợ này nữa. Cả người bán lẫn khách mua đều sụt sùi khóc. 
 
ST